Động lực phát triển đất nước: [Bài cuối] Đòn bẩy từ tài chính xanh
Tin tức - Sự kiện 20/01/2026
Nguồn lực tài chính xanh qua các kỳ Đại hội
Đặt tiến trình tư duy của Đảng qua các kỳ Đại hội từ VI đến dự thảo XIV vào dòng chảy gần 40 năm Đổi mới cho phép nhận diện rõ sự vận động nhận thức về quan hệ giữa kinh tế và tự nhiên. Từ xuất phát điểm của khủng hoảng, thiếu đói, bao vây cấm vận, tư duy phát triển ban đầu hình thành trên yêu cầu sinh tồn, tích lũy ban đầu và giải phóng sức sản xuất. Qua từng giai đoạn, cùng với thay đổi của bối cảnh quốc tế, mức độ hội nhập và áp lực sinh thái gia tăng, nhận thức về tài nguyên, môi trường chuyển dần từ yếu tố phụ trợ sang nền tảng quyết định chất lượng tăng trưởng và ổn định dài hạn.
.jpg)
Môi trường được nhìn nhận như lĩnh vực kinh tế với thị trường carbon, tín chỉ phát thải
Văn kiện Đại hội VI năm 1986 phản ánh rõ logic thoát nghèo, đặt trọng tâm vào 3 chương trình kinh tế lớn lương thực thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu. Tài nguyên thiên nhiên được nhìn nhận như nguồn vốn sẵn có để huy động nhanh phục vụ tăng trưởng. Rừng, đất, biển, khoáng sản trở thành đầu vào cho quá trình tích lũy ban đầu. Cơ chế khoán trong nông nghiệp tạo ra bứt phá về sản lượng, giải quyết an ninh lương thực trong thời gian ngắn. Nhận thức môi trường gần như vắng mặt do áp lực tồn tại chi phối toàn bộ tư duy chính sách. Hệ quả sinh thái tích tụ âm thầm với tốc độ phá rừng cao, suy giảm đa dạng sinh học, suy thoái đất canh tác tại nhiều vùng.
Đại hội VII năm 1991 diễn ra trong bối cảnh ban hành Cương lĩnh đầu tiên của thời kỳ Đổi mới và bình thường hóa quan hệ đối ngoại. Văn kiện bắt đầu đề cập tới tác động phụ của tăng trưởng đối với tài nguyên song ưu tiên tuyệt đối vẫn dành cho mở cửa kinh tế và thu hút nguồn lực bên ngoài. Môi trường được xem như lĩnh vực cần quan tâm trong tương lai, chưa trở thành ràng buộc đối với quyết định phát triển. Đòn bẩy chủ đạo nằm ở tự do hóa sản xuất, xóa bỏ bao cấp, khai thông thị trường.
Đại hội VIII năm 1996 đánh dấu bước chuyển mạnh sang công nghiệp hóa hiện đại hóa. Văn kiện thừa nhận hạn chế trong quản lý tài nguyên và môi trường. Luật Bảo vệ môi trường được ban hành song hiệu lực thấp. Chiến lược phát triển ưu tiên công nghiệp nặng, năng lượng, khai khoáng. Doanh nghiệp nhà nước và các tổng công ty lớn giữ vai trò trung tâm. Phát thải và ô nhiễm gia tăng song được chấp nhận như chi phí phải trả cho tăng trưởng nhanh.
Đại hội IX năm 2001 lần đầu đưa khái niệm phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững vào văn kiện. Môi trường được xác lập như trụ cột trong bộ ba kinh tế xã hội môi trường. Hội nhập kinh tế quốc tế mở rộng tạo áp lực điều chỉnh chính sách. Dù vậy, công cụ kinh tế cho bảo vệ môi trường chưa hình thành đầy đủ. Vi phạm môi trường có chi phí thấp hơn tuân thủ, làm méo mó tín hiệu thị trường.
Đại hội X năm 2006 gắn với sự kiện gia nhập WTO. Bảo vệ môi trường được lồng ghép vào quy hoạch phát triển. Tăng trưởng nhanh vẫn được ưu tiên, mức đánh đổi sinh thái được chấp nhận ở ngưỡng nhất định. Đòn bẩy phát triển nằm ở hội nhập sâu và cải cách doanh nghiệp nhà nước. Môi trường được nhìn nhận như điều kiện đi kèm tăng trưởng.
Đại hội XI năm 2011 diễn ra trong bối cảnh tái cơ cấu kinh tế. Chiến lược Tăng trưởng xanh ra đời năm 2012, phản ánh bước tiến quan trọng trong tư duy khi biến đổi khí hậu được nhận diện như thách thức dài hạn. Tư duy dịch chuyển từ khắc phục hậu quả sang phòng ngừa rủi ro. Hệ thống ngân hàng và đầu tư công trở thành trọng tâm tái cấu trúc.
Đại hội XII năm 2016 chịu tác động mạnh từ sự cố môi trường biển miền Trung. Văn kiện khẳng định nguyên tắc không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế. An ninh môi trường được đặt ngang hàng an ninh quốc gia. Kinh tế tư nhân được xác định là động lực quan trọng. Nhận thức môi trường bước sang ngưỡng mới mang tính chuẩn mực chính trị.
Đại hội XIII năm 2021 gắn với khát vọng phát triển phồn vinh và cú sốc đại dịch toàn cầu. Kinh tế tuần hoàn và mục tiêu Net Zero được đưa vào định hướng phát triển. Cam kết quốc tế tại COP26 thể hiện mức độ hội nhập sâu của tư duy môi trường. Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trở thành động lực trung tâm.
Đại hội XIV cho thấy bước tiến vượt trội về tính cụ thể của công cụ. Chuyển đổi kép xanh và số được xác lập như định hướng xuyên suốt. Môi trường được nhìn nhận như lĩnh vực kinh tế với thị trường carbon, tín chỉ phát thải. Phân cấp mạnh gắn với kỷ cương thể chế. Đòn bẩy phát triển chuyển sang tín dụng xanh, công cụ tài chính, vai trò dẫn dắt của khu vực kinh tế tư nhân. Nhà nước chuyển trọng tâm sang kiến tạo, định hình luật chơi và điều tiết bằng chính sách kinh tế.
Đòn bẩy cho chuyển đổi xanh
Đòn bẩy chuyển đổi xanh trong kỷ nguyên sinh thái được hình thành từ yêu cầu tái cấu trúc mô hình phát triển khi áp lực khí hậu, suy thoái tài nguyên và hội nhập tiêu chuẩn quốc tế gia tăng nhanh. Phân tích tổng hợp cho thấy cơ chế vận hành cốt lõi mang dạng kiềng ba chân với trụ tài chính, trụ chủ thể tư nhân, trụ công nghệ đổi mới sáng tạo. Ba cấu phần liên kết chặt chẽ tạo ra lực tác động lan tỏa, bảo đảm cạnh tranh công bằng, thúc đẩy chuyển đổi mô hình sản xuất, gia tăng giá trị dài hạn cho nền kinh tế.
Hệ sinh thái tài chính xanh giữ vai trò trung tâm trong cấu trúc đòn bẩy. Dòng vốn tín dụng quyết định khả năng tồn tại và mở rộng của doanh nghiệp. Khi định hướng tín dụng gắn với tiêu chí môi trường, tín hiệu thị trường thay đổi căn bản. Doanh nghiệp gây ô nhiễm trước kia hưởng lợi từ chi phí xử lý thấp, tiếp cận vốn dễ dàng, tạo ưu thế cạnh tranh phi bền vững.
Giai đoạn mới xác lập logic khác. Tín dụng xanh ưu tiên dự án giảm phát thải, phục hồi hệ sinh thái, ứng dụng công nghệ sạch. Lãi suất ưu đãi, hạn mức cao, khả năng tiếp cận vốn quốc tế trở thành lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp xanh. Doanh nghiệp phát thải cao đối diện chi phí vốn tăng, dư địa mở rộng thu hẹp. Cơ chế tạo sân chơi bình đẳng dựa trên hiệu quả sinh thái kinh tế thay cho ưu thế khai thác tài nguyên.
.jpg)
Tín dụng xanh ưu tiên dự án giảm phát thải, ứng dụng công nghệ sạch.
Một điểm then chốt của nhiệm kỳ mới nằm ở quá trình chuyển tín dụng xanh từ sản phẩm ngách sang thông lệ phổ quát, đòi hỏi tái thiết kế toàn bộ hệ thống tài chính. Quỹ tái cấp vốn xanh giúp ngân hàng thương mại kéo dài kỳ hạn cho vay, giảm rủi ro lãi suất. Công cụ bảo lãnh tín dụng xanh chia sẻ rủi ro cho dự án nông nghiệp bền vững, kinh tế tuần hoàn. Cơ chế ngân hàng đất đai tạo quỹ đất minh bạch cho sản xuất quy mô lớn gắn với tiêu chuẩn sinh thái. Khi tiêu chí xanh trở thành điều kiện mặc định, hành vi doanh nghiệp tự điều chỉnh theo hướng giảm phát thải, nâng cao hiệu quả tài nguyên.
Khu vực kinh tế tư nhân giữ vai trò động cơ vận hành đòn bẩy. Áp lực lợi nhuận, cạnh tranh quốc tế, yêu cầu tuân thủ CBAM, EPR buộc doanh nghiệp tư nhân chuyển đổi nhanh. Các tập đoàn tư nhân lớn dẫn đầu trong xe điện, năng lượng tái tạo, nông nghiệp công nghệ cao, logistics xanh. Khả năng thích ứng linh hoạt giúp tư nhân hấp thụ nhanh tín hiệu giá từ tài chính xanh. Cạnh tranh công bằng hình thành khi ưu đãi ngầm cho doanh nghiệp nhà nước được thu hẹp, tư nhân tham gia bình đẳng vào hạ tầng, năng lượng, xử lý chất thải. Xử lý môi trường trở thành ngành kinh tế tạo giá trị thay vì gánh nặng chi phí.
Đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số giữ vai trò công cụ kỹ thuật bảo đảm hiệu quả đòn bẩy. Công nghệ cho phép gia tăng giá trị song hành giảm phát thải. Kinh tế tuần hoàn kéo dài vòng đời vật liệu, biến phụ phẩm thành đầu vào mới. Công nghệ tái chế tiên tiến chuyển nhựa thải thành nguyên liệu dệt may, phụ phẩm nông nghiệp thành năng lượng sinh khối. Chuyển đổi số cung cấp dữ liệu phát thải minh bạch thông qua IoT, blockchain, AI. Dữ liệu minh bạch là điều kiện tồn tại của thị trường carbon, tín chỉ phát thải, cơ chế tín dụng xanh. Thiếu dữ liệu đồng nghĩa thiếu công bằng.
Cơ chế thị trường dần thay thế mệnh lệnh hành chính. Nhà nước không áp đặt khẩu hiệu bảo vệ môi trường mà thiết kế thị trường nơi bảo vệ môi trường sinh lợi, gây ô nhiễm làm phát sinh chi phí. Thuế môi trường, phí phát thải, lãi suất tín dụng phản ánh đầy đủ chi phí sinh thái. Phân cấp mạnh cho địa phương giúp rút ngắn thời gian phê duyệt dự án xanh, phát huy hiểu biết bản địa về tài nguyên. Rủi ro chạy đua hạ chuẩn được kiểm soát thông qua tiêu chuẩn tín dụng xanh thống nhất toàn hệ thống ngân hàng và giám sát dữ liệu tập trung. Địa phương không thể hạ chuẩn tín dụng để thu hút dự án gây ô nhiễm.
Trong nông nghiệp và chuỗi giá trị vùng, đòn bẩy vận hành thông qua hạ tầng xanh và tín dụng chuỗi. Giao thông thủy nội địa giảm chi phí logistics, giảm phát thải. Ngân hàng cấp tín dụng ưu đãi cho toàn chuỗi nếu quy trình canh tác chứng minh giảm phát thải. Nông dân đổi mới phương thức sản xuất, doanh nghiệp chế biến giảm chi phí, sản phẩm đạt chuẩn thị trường Âu Mỹ, giá bán cải thiện. Trong công nghiệp chế biến, EPR tạo động lực tài chính cho tái chế. Doanh nghiệp đầu tư công nghệ sạch đóng phí thấp hơn, lợi thế cạnh tranh hình thành tự nhiên.
Sự hội tụ của công cụ kinh tế, khu vực tư nhân, công nghệ dữ liệu tạo ra đòn bẩy chuyển đổi xanh mang tính cấu trúc cho giai đoạn Đại hội XIV. Môi trường được thị trường hóa thành ngành kinh tế, trách nhiệm sinh thái gắn trực tiếp với lợi ích tài chính. Tư duy phát triển bước sang kỷ nguyên sinh thái - nơi tăng trưởng gắn liền khả năng tái tạo tự nhiên và chất lượng thể chế quốc gia.
TIN LIÊN QUAN
- Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng chỉ đạo đẩy nhanh sửa đổi 3 luật lớn về đất đai, môi trường, biển đảo
- Thủ tướng định hướng các nhiệm vụ trọng tâm của ngành Nông nghiệp và Môi trường thời gian tới
- Hội thảo góp ý Dự thảo luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường: Từ "chân phanh" ngăn chặn ô nhiễm đến "động lực" cho nền kinh tế xanh
- Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Hội nghị giao ban công tác quý I, triển khai nhiệm vụ trọng tâm quý II/2026
- Lấy ý kiến Góp ý dự thảo Nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
- Kế hoạch triển khai Tháng hành động về An toàn, vệ sinh lao động năm 2026
- Họp Tổ soạn thảo xây dựng dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường.
- Hội nghị tổng kết và triển khai một số nội dung phối hợp giữa Bộ Nông nghiệp và Môi trường và Bộ Công an.
- Tuyên truyền cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
- Hội nghị triển khai các nhiệm vụ trọng tâm lĩnh vực môi trường năm 2026